Kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026 có một điểm thuận lợi cho việc đánh giá: đây là năm thứ hai thi theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018, cấu trúc đề về cơ bản đã ổn định hơn so với năm 2025.

Từ góc nhìn khảo thí, phổ điểm công bố khó có thể kết luận đơn giản rằng chất lượng học sinh đã tăng hay giảm, bởi vì điểm thi là kết quả của ít nhất bốn yếu tố: năng lực thật của học sinh, độ khó của đề, độ phân biệt của từng câu hỏi và cách chấm.

Về tổ chức, kỳ thi năm nay là một cuộc vận hành lớn. Cả nước có 1.223.776 thí sinh đăng ký, 1.213.695 thí sinh dự thi, tại 2.478 điểm thi với 54.409 phòng thi. Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) cho biết kỳ thi diễn ra đúng kế hoạch, chưa ghi nhận lộ lọt đề thi; 74 thí sinh bị đình chỉ, chủ yếu vẫn là lỗi mang điện thoại vào phòng thi. Khâu công bố kết quả cũng khá kịp thời khi phổ điểm các môn được công bố ngay sau thời điểm thí sinh bắt đầu tra cứu điểm ngày 1/7. Về quản trị kỳ thi, đây là những điểm cần ghi nhận. Nhưng xét về chất lượng và độ tin cậy của cả kỳ thi, vẫn cần phân tích kỹ hơn chất lượng đề thi, chấm thi và việc sử dụng kết quả cho xét tốt nghiệp, tuyển sinh.

Phổ điểm 2026 cho thấy bức tranh không đồng đều: có môn được chỉnh hợp lý hơn, có môn bị kéo xuống mạnh, có môn phơi ra khoảng trống trong dạy học.

Môn Toán cho cảm giác đề năm 2026 được điều chỉnh khá hơn. Phổ điểm không còn bị kéo xuống mạnh như năm 2025, nhưng cũng không quay lại trạng thái điểm khá cao dồn nhiều như 2023–2024. Dải điểm từ khoảng 6,5 đến 8,5 rõ hơn, còn vùng 9 trở lên vẫn hẹp. Đây là kiểu phổ phù hợp cho tuyển sinh. Có thể thấy đề Toán năm nay đã giảm bớt độ gắt ở phần trung bình - khá, đồng thời vẫn giữ câu hỏi đủ khó để phân hóa. Tuy nhiên, với đề Toán vẫn cần phân tích sâu hơn. Phổ điểm cho thấy đề có phân hóa, nhưng cần xem sự phân hóa ấy đến từ năng lực tư duy, mô hình hóa, lập luận toán học hay chủ yếu từ kỹ năng luyện đề và tốc độ tính toán.

Ngữ văn giảm điểm khá rõ: điểm trung bình từ 7,0 xuống 6,5; trung vị từ 7,25 xuống 6,75; tỉ lệ dưới trung bình tăng từ 6,24% lên 11,083%, trong khi nhóm từ 7 trở lên giảm từ hơn 59% xuống hơn 44%. Không nên vội xem đây là chất lượng học Văn đi xuống; có thể đề và cách chấm đã bớt dễ dãi với lối viết chung chung, thuộc ý, dùng văn mẫu. Việc áp dụng rubric trong chấm tự luận (bảng tiêu chí đánh giá chi tiết để chấm điểm) là bước cần thiết để giảm cảm tính, nhưng cũng phải tránh biến tiêu chí thành khuôn cứng, làm hẹp khả năng nhận diện những bài viết có giọng riêng, lập luận tốt. Môn Văn tiếp tục thiếu vắng điểm 10 trong hơn một triệu bài thi cũng gợi ý cần xem lại "trần điểm" trong quan niệm chấm bài tự luận.

Trường hợp Lai Châu là một ví dụ đáng chú ý: năm 2025 đạt trung bình 6,357 điểm, xếp thứ 54/63 tỉnh, thành cũ; năm 2026 đạt trung bình 6,628 điểm, đứng thứ 10 trong nhóm 34 tỉnh, thành mới. Trong lúc điểm Văn cả nước giảm, Lai Châu vẫn nhích lên, cho thấy nếu ôn tập đúng hướng, chú trọng đọc hiểu, lập luận và kỹ năng viết theo đề mở, học sinh vùng khó vẫn có thể cải thiện vị trí.

Vật lý và Hóa học cho hai tín hiệu rất khác nhau. Vật lý cần được soi kỹ nhất: điểm trung bình giảm từ 6,99 xuống 5,56; tỉ lệ dưới trung bình tăng từ 9,79% lên 39,369%; nhóm từ 7 trở lên giảm từ 53,663% xuống 26,066%; điểm 10 rơi từ 3.929 xuống 189. Có thể năm 2025 đề hơi thoáng ở vùng điểm cao nên năm 2026 được siết lại, nhưng siết đến mức gần 40% thí sinh dưới trung bình thì phải xem ma trận đề và từng nhóm câu hỏi. Ngược lại, Hóa học có phổ điểm hợp lý hơn: điểm trung bình tăng từ 6,06 lên 6,28; dưới trung bình giảm từ 29,529% xuống 21,981%; nhóm từ 7 trở lên tăng từ 33,667% lên 39,887%, trong khi điểm 10 giảm từ 625 xuống 412. Phổ này cho thấy đề Hóa có thể đã nâng được mặt bằng trung bình - khá nhưng vẫn giữ phần khó để chặn điểm tuyệt đối.

Sinh học ổn định hơn là tiến bộ. Điểm trung bình chỉ nhích từ 5,78 lên 5,84; dưới trung bình giảm nhẹ từ 32,44% xuống 31,428%; nhóm từ 7 trở lên tăng rất ít. Đây không phải tín hiệu xấu, nhưng cũng chưa đủ để nói dạy học Sinh đã chuyển biến rõ. Với môn tự chọn, cần cẩn trọng hơn vì người dự thi không còn là toàn bộ lứa học sinh như trước, mà là nhóm có lựa chọn theo định hướng xét tuyển hoặc năng lực cá nhân.

Tiếng Anh cho thấy vấn đề nền tảng. Điểm trung bình giảm từ 5,38 xuống 5,07; trung vị còn 4,75; tỉ lệ dưới trung bình vượt 50%. Trong khi đó, nhóm từ 7 trở lên gần như không giảm, điểm 10 tăng từ 141 lên 311. Nghĩa là học sinh có nền tiếng Anh tốt vẫn bứt lên, còn số đông mắc ở vùng thấp. Hình "yên ngựa" của 2023–2024 không còn rõ, nhưng chưa thể kết luận khoảng cách học tiếng Anh đã thu hẹp, vì từ 2025 Ngoại ngữ không còn là môn bắt buộc với toàn bộ thí sinh. Bất bình đẳng có thể bớt lộ bằng hai đỉnh phổ điểm, nhưng vẫn hiện rất rõ ở thực tế: học nhiều năm mà hơn nửa bài thi dưới trung bình.

Từ phổ điểm các môn, có thể nói kỳ thi 2026 ổn hơn về mặt vận hành và dữ liệu công bố. Về đề thi, có môn được chỉnh tương đối tốt như Toán, Hóa; có môn ổn định nhưng chưa bật lên như Sinh; có môn cần soi lại như Vật lý; có môn phản ánh vấn đề hệ thống như Tiếng Anh; còn Văn cho thấy tác động của đề mở và cách chấm mới.

Vì vậy, lúc này khó nói "chất lượng đã tăng" hay "chất lượng đi xuống"; điều có thể thấy rõ là kỳ thi đang tạo ra nhiều dữ liệu hơn để đọc lại chất lượng dạy học. Sau phổ điểm, Bộ GD&ĐT nên công bố phân tích sâu hơn về độ khó, độ phân biệt từng câu, tỉ lệ chọn phương án nhiễu, độ lệch theo vùng, theo loại hình trường và tương quan với học bạ. Khi ấy mới biết điểm thi phản ánh tiến bộ thật của học sinh, sự điều chỉnh hợp lý của đề, hay những khoảng trống chưa được xử lý trong chương trình và phương pháp dạy học.

Chuyên mục TÂM ĐIỂM mong nhận được ý kiến của bạn đọc về nội dung bài viết. Hãy vào phần Bình luận và chia sẻ suy nghĩ của mình. Xin cảm ơn!