Thu nhập bình quân đầu người lên gần 5.000 USD
Theo công bố từ World Bank (WB), tổng thu nhập quốc gia (GNI) bình quân đầu người của VN tăng từ 4.490 USD năm 2024 lên 4.970 USD vào năm 2025. Mức thu nhập này vượt ngưỡng 4.636 USD - tiêu chí để được xếp vào nhóm thu nhập trung bình cao theo phân loại mới của WB. VN thăng hạng nhờ tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu. Trong hai năm 2024 - 2025, xuất khẩu của VN tăng hơn 15%, tăng trưởng kinh tế (GDP) lần lượt đạt 7% và 8%.
Tính trong giai đoạn 2021 - 2025, GNI của VN tăng trưởng trung bình 10% mỗi năm, được các chuyên gia WB đánh giá là "một trong những mức tăng trưởng bền vững mạnh nhất khu vực". Ngoài ra, VN đặt mục tiêu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao đến năm 2030, tiến tới trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Để đạt điều này, Chính phủ phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn tới. Năm nay, WB đánh giá 218 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó 6 nước được nâng hạng. Ngoài VN, 4 nước được nâng từ thu nhập trung bình thấp lên trung bình cao gồm Philippines, Sri Lanka, Jordan và Micronesia. Theo WB, các phân loại này cho biết quốc gia nào có thể tiếp cận các khoản vay ưu đãi và hỗ trợ phát triển, đồng thời giúp các chính phủ, nhà nghiên cứu và nhiều tổ chức quốc tế theo dõi tiến trình kinh tế toàn thế giới.
Trên thực tế, tốc độ tiến đến cột mốc này của VN so với các nước khá ấn tượng trong 40 năm qua. Dữ liệu cho thấy trong giai đoạn 1986 - 2023, thu nhập bình quân đầu người của VN có sự cải thiện lớn nhất trong khối ASEAN, tăng 44 lần. Các quốc gia khác cũng có sự cải thiện nhưng chậm hơn. Đơn cử, Myanmar tăng 30 lần, Campuchia tăng 15 lần, Singapore tăng 9,6 lần, Indonesia tăng 9,5 lần, Thái Lan tăng 8,3 lần, Philippines tăng 6,8 lần, Malaysia tăng 6,2 lần, Lào tăng 3,8 lần và Brunei tăng 3,5 lần. Đáng chú ý, năm 1986, thu nhập bình quân đầu người của VN chỉ đạt khoảng 95 USD, thuộc nhóm thu nhập thấp. Đến năm 2009, con số này tăng lên 1.120 USD, đưa VN vào nhóm thu nhập trung bình thấp. Trong khi đó Thái Lan mất 22 năm để "nâng cấp" lên nhóm các nước có thu nhập trung bình cao, Philippines mất 30 năm. VN đặt mục tiêu sẽ tiến thêm một bước, vào "giới trung lưu" trong khoảng 20 năm, trước năm 2030. Thế nhưng mới chỉ 17 năm, kinh tế VN đã tăng trưởng nhanh để chính thức ghi danh vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao.
Khảo sát bỏ túi của Thanh Niên thực hiện với một số người về thu nhập cũng khá tương đồng với quá trình tăng trưởng kinh tế suốt nhiều thập niên qua. Bước sang năm thứ 13 học tập và làm việc ở TP.HCM, cuộc sống của anh Hoàng Việt (40 tuổi, quê Thanh Hóa), nhân viên IT của một công ty công nghệ tại TP.HCM, thay đổi nhanh "vượt ngoài mong đợi". Ngày quyết định chuyển công tác vào TP.HCM, anh Việt chỉ hy vọng sẽ có được công việc ổn định với mức lương khoảng 15 - 20 triệu đồng/tháng, đủ để thuê 1 căn hộ chung cư và chi tiêu, sinh hoạt một mình. Nhưng nhờ sự năng động và may mắn, ngoài công việc chính ở công ty, các mối quan hệ mở rộng ở TP lớn mang đến nhiều cơ hội để anh có thêm các nghề tay trái, rồi đầu tư vào đất đai, chứng khoán… Giờ đây mỗi tháng, anh Việt có thể kiếm được gần 100 triệu đồng.
"Tôi vừa mua được một căn hộ 2 phòng ngủ tại một chung cư cao cấp khu quận 7 cũ. Tất nhiên là tôi có vay ngân hàng, trả góp hằng tháng nhưng vẫn nằm trong khả năng. Chưa bao giờ tôi nghĩ có thể mua được nhà ở TP, điều này thật sự vượt ngoài mong đợi. Thu nhập tăng nhanh không chỉ vì tôi làm việc chăm chỉ mà phần lớn là nhờ các hình thái kinh tế, dịch vụ mới xuất hiện, đặc biệt là công nghệ phát triển đã giúp công việc của dân IT như chúng tôi có nhiều cơ hội hơn. Các dịch vụ tài chính giúp chúng tôi có thể tiết kiệm tiền dễ dàng hơn, vay ngân hàng hoặc mua nhà theo tiến độ với phần chi phí phù hợp hơn… Tất cả những điều này giúp chất lượng cuộc sống ngày càng tăng lên", anh Hoàng Việt hào hứng kể.
Thành tựu của quá trình đổi mới
Chuyên gia kinh tế Trần Hoàng Ngân, đại biểu Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng tư vấn đột phá phát triển Trường ĐH Sài Gòn, cho rằng việc WB công bố VN lên nhóm thu nhập trung bình cao là niềm vui chung của cả nước. Cuối năm 2025 khi VN công bố số liệu thống kê thì ước tính thu nhập bình quân đầu người cũng đã đạt trên 5.000 USD. Khi đó, các chuyên gia trong nước đều nhận định rằng VN đã chạm ngưỡng quốc gia có thu nhập trung bình cao khi chiếu theo tiêu chí phân loại của WB. Chính vì vậy, bảng phân loại mới nhất của WB là việc công bố chính thức đối với VN. Điều này càng có ý nghĩa và vui hơn nữa khi VN đã hoàn thành trước đích về mục tiêu trở thành nước có thu nhập trung bình cao trước (mục tiêu đề ra trước đây là VN sẽ trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030).
TS Trần Hoàng Ngân nhấn mạnh: "Đây là sự một khẳng định, sự thừa nhận về quá trình đổi mới của VN, là công nhận những thành tựu của cả nước trong thời gian qua". Theo ông, nhìn lại chặng đường vừa qua thấy nỗ lực của cả một dân tộc. Khi VN bước vào giai đoạn đổi mới năm 1986 thì thu nhập bình quân đầu người chưa đạt 100 USD và là nước thu nhập thấp, là nước nghèo trên thế giới. Đến năm 2008, VN có thu nhập bình quân đầu người vượt ngưỡng 1.000 USD và được xếp vào nhóm có thu nhập trung bình thấp, nghĩa là sau hơn 20 năm thì từ một nước nghèo, VN mới tiến lên nhóm nước có thu nhập trung bình thấp. Và chúng ta mất thêm gần 17 năm để tiến lên được ở ngưỡng cao của phân khúc thu nhập trung bình. Điều này cho thấy "bẫy thu nhập trung bình" mà các chuyên gia kinh tế hay đề cập đến là rất dài mà không phải bất kỳ quốc gia nào cũng có thể vượt qua. Tuy nhiên, với việc công nhận chính thức từ WB, VN hoàn toàn có đủ cơ sở, đủ tự tin và kiên định mục tiêu phấn đấu để trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045.
Đồng quan điểm, chuyên gia kinh tế Trần Anh Tùng (Trường ĐH Kinh tế - Tài chính TP.HCM) đánh giá VN đang sở hữu nhiều điều kiện tương đồng với Nhật Bản và Hàn Quốc trong giai đoạn cất cánh. Thứ nhất là lợi thế về ổn định chính trị và hội nhập quốc tế sâu rộng. VN hiện tham gia hơn 15 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có các FTA thế hệ mới như CPTPP, EVFTA và RCEP, tạo điều kiện tiếp cận các thị trường chiếm phần lớn GDP toàn cầu. Thứ hai là lực lượng lao động vẫn còn tương đối dồi dào với chi phí cạnh tranh so với Trung Quốc, trong khi vị trí địa chính trị ngày càng quan trọng trong xu hướng đa dạng hóa chuỗi cung ứng sau đại dịch và căng thẳng Mỹ - Trung. Đây là lý do VN liên tục nằm trong nhóm thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) lớn nhất ASEAN, với vốn FDI thực hiện hằng năm duy trì trên 20 tỉ USD trong nhiều năm gần đây và khu vực FDI đóng góp khoảng 74% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước. Điều quan trọng nhất của kỷ nguyên mới này là tốc độ chuyển từ "đặt nền móng" sang "tạo thu nhập thực" cho người dân. Khi VN bước vào giai đoạn tăng trưởng dựa trên công nghệ, FDI chất lượng cao, bán dẫn, AI, tài chính, logistics và dịch vụ hiện đại, nền kinh tế sẽ tạo ra nhóm lao động có thu nhập rất cao.
Tiến tới mục tiêu trở thành nước thu nhập cao
Chuyên gia kinh tế Trần Anh Tùng cho rằng để trở thành nước thu nhập cao vào năm 2045, GDP bình quân đầu người của VN phải vượt ngưỡng 13.000 USD theo chuẩn hiện hành của WB, tức tăng gấp khoảng 3 lần trong 20 năm, tương đương mức tăng trưởng GDP bình quân đầu người tối thiểu 6% mỗi năm, liên tục trong 2 thập niên, chưa tính rủi ro chu kỳ và già hóa dân số. Nếu tăng trưởng GDP chung chỉ ở mức 6,5 - 7%/năm mà năng suất không cải thiện mạnh, thì thu nhập của người dân sẽ không bật lên như kỳ vọng. Vì vậy, cần có các động lực thúc đẩy để có thể đạt được sức bật.
Trước tiên, cần nâng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) lên trên 60% để tạo tăng trưởng thực chất. "Muốn trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, tăng trưởng của VN không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào mở rộng tín dụng và gia tăng vốn đầu tư. Hiện nay TFP đóng góp khoảng 45 - 47% vào tăng trưởng GDP. Nếu nâng tỷ lệ này lên trên 60%, đồng thời duy trì năng suất lao động tăng bình quân 6 - 7%/năm, nền kinh tế có thể tạo thêm khoảng 2 - 3 điểm phần trăm tăng trưởng mà không cần mở rộng quá mức đầu tư hay lao động. Đây chính là động lực giúp GDP tăng nhanh hơn trong bối cảnh dân số vàng dần kết thúc", ông Trần Anh Tùng phân tích. Kế tiếp, cần nâng tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước để giữ lại nhiều GDP hơn từ dòng vốn FDI. Khu vực FDI hiện đóng góp khoảng 74% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa, nhưng tỷ lệ giá trị gia tăng giữ lại trong nước ở nhiều ngành chế biến, điện tử vẫn còn thấp do phụ thuộc nhập khẩu linh kiện và công nghệ. Vì thế, VN không nên tiếp tục đánh giá thành công của FDI chủ yếu bằng vốn đăng ký hay vốn thực hiện, mà cần chuyển sang bộ chỉ tiêu chất lượng. Đến năm 2030, nên đặt mục tiêu tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa trong các ngành điện tử, bán dẫn, ô tô, thiết bị y tế đạt tối thiểu 40 - 45%, thay vì chỉ tập trung vào kim ngạch xuất khẩu. Song song, yêu cầu các dự án FDI quy mô trên 500 triệu USD phải có trung tâm R&D, chương trình đào tạo kỹ sư VN và kế hoạch phát triển nhà cung cấp trong nước.
Hay đối với mục tiêu đến năm 2035 có ít nhất 20.000 doanh nghiệp (DN) Việt trở thành nhà cung ứng cấp 1 và cấp 2 cho các tập đoàn đa quốc gia. Chỉ khi DN nội địa tham gia sâu vào chuỗi giá trị, VN mới giữ lại được phần lớn giá trị gia tăng thay vì chỉ thu được tiền công lắp ráp. Nếu đến năm 2035, tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành chủ lực được nâng từ khoảng 20 - 35% hiện nay lên 45 - 50%, mỗi 100 tỉ USD giá trị xuất khẩu sẽ giữ lại thêm khoảng 10 - 15 tỉ USD giá trị gia tăng trong nền kinh tế.
Ông Trần Hoàng Ngân cũng tự tin VN có đủ cơ sở để thực hiện mục tiêu trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045. Với các định hướng, nghị quyết mà Bộ Chính trị đã đưa ra, VN sẽ tăng tốc hơn nữa trong giai đoạn phát triển kinh tế cao, thực chất. Hiện nay, xét trên tổng thể có 3 khu vực chính là thương mại dịch vụ; công nghiệp và xây dựng; nông lâm, thủy hải sản. Hai lĩnh vực đầu tiên thì khả năng tăng trưởng trên 2 chữ số trong những năm tới sẽ đạt được khi kinh tế phát triển sẽ thúc đẩy thương mại dịch vụ, công nghệ chế biến mạnh hơn… Hơn nữa, hai khu vực này cũng đã có tốc độ tăng trưởng khoảng 9%/năm nên tiến lên mức 2 con số không quá khó. Thế nhưng đối với lĩnh vực nông lâm, thủy sản, dù vốn là thế mạnh của VN nhưng chỉ tăng trưởng khoảng 3 - 4% mỗi năm. Tiềm năng và dư địa để tăng trưởng của lĩnh vực này rất nhiều khi VN có thế mạnh về khí hậu, đồng bằng, kinh tế biển… Chính vì vậy, Chính phủ cần quan tâm nhiều hơn nữa, gia tăng đầu tư, thúc đẩy ứng dụng KH-CN để tăng năng suất, tạo ra giá trị gia tăng nhiều hơn. Từ đó sẽ giúp kinh tế VN tăng trưởng cao trong nhiều năm, thậm chí có thể đưa nước ta thực hiện sớm mục tiêu bước vào nhóm quốc gia có thu nhập cao sớm hơn năm 2045.





