Thành quả từ gần 40 năm đổi mới
Ngân hàng Thế giới (WB) vừa xếp Việt Nam vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao sau khi thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người tăng từ 4.490 USD năm 2024 lên 4.970 USD trong năm 2025.
“Việt Nam mất khoảng 17 năm để chuyển từ nhóm nước có thu nhập trung bình thấp lên nhóm thu nhập trung bình cao. Đây là minh chứng rõ nét cho hiệu quả của quá trình cải cách. Kết quả này thể hiện sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những nỗ lực rất lớn trong gần hai thập niên của Chính phủ, cộng đồng doanh nghiệp và người dân”, TS Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam đánh giá.
Chia sẻ với PV VietNamNet, TS Lê Duy Bình cho rằng, động lực lớn nhất giúp kinh tế Việt Nam đạt được những thành tựu trong gần 40 năm qua chính là quá trình cải cách được triển khai từ năm 1986. Những cải cách về thể chế và kinh tế đã giúp Việt Nam lựa chọn được mô hình tăng trưởng phù hợp, tạo nền tảng cho hàng loạt cải cách tiếp theo.
Từ một nền kinh tế vận hành theo cơ chế bao cấp, Việt Nam từng bước chuyển sang kinh tế thị trường, mở cửa cả thị trường trong nước và quốc tế. Theo ông, đây là nền tảng quan trọng để thúc đẩy sản xuất, thu hút đầu tư và tạo động lực cho tăng trưởng.
Ông cho rằng cùng với việc mở rộng thị trường, Việt Nam đã đa dạng hóa các thành phần kinh tế, tạo điều kiện cho khu vực tư nhân và các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia mạnh mẽ vào nền kinh tế.
“Khi có thị trường thì sẽ có sản xuất, có sản xuất thì sẽ thúc đẩy đầu tư”, ông Bình nói.
Theo vị chuyên gia, đầu tư, nhất là đầu tư tư nhân và đầu tư trực tiếp nước ngoài, đã trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của Việt Nam trong suốt bốn thập niên qua.
Bên cạnh đó, xuất khẩu cũng là động lực tăng trưởng quan trọng. Tuy nhiên, ông cho rằng, cần nhìn rộng hơn khi nói đến thị trường. Động lực tăng trưởng không chỉ đến từ xuất khẩu mà còn từ việc mở rộng thị trường trong nước.
Những cải cách kinh tế đồng thời góp phần nâng cao thu nhập và sức mua của người dân. Cùng với các chính sách an sinh xã hội, đời sống được cải thiện đã giúp người dân yên tâm tiêu dùng, qua đó tạo thêm động lực cho tăng trưởng.
Đồng quan điểm, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân (Trường Đại học Kinh tế TPHCM) cho rằng, việc Việt Nam được xếp vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao là kết quả của bốn động lực lớn.
Theo ông, trước hết là thành quả của gần 40 năm đổi mới. Việt Nam đã chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước mở cửa thương mại, thu hút đầu tư nước ngoài và hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đây là nền tảng giúp quy mô nền kinh tế, năng lực sản xuất và thu nhập bình quân đầu người tăng lên đáng kể.
Động lực thứ hai là năng lực hội nhập và xuất khẩu. Việt Nam đã trở thành một trung tâm sản xuất quan trọng của khu vực trong các lĩnh vực như điện tử, dệt may, da giày, đồ gỗ, nông sản chế biến và logistics. Cùng với đó, xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu những năm gần đây đã mở thêm cơ hội thu hút vốn đầu tư mới, mở rộng sản xuất và nâng cao vị thế của Việt Nam trong thương mại quốc tế.
Theo ông Huân, thành quả này cũng đến từ việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, cải thiện môi trường đầu tư và cải cách thể chế. Trong nhiều năm, Việt Nam giữ được tốc độ tăng trưởng khá, kiểm soát lạm phát, duy trì ổn định chính trị - xã hội, phát triển hạ tầng, qua đó tạo niềm tin cho doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư dài hạn.
Bên cạnh đó, sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, quá trình đô thị hóa và sự mở rộng của tầng lớp trung lưu đã trở thành động lực nội sinh quan trọng. Thu nhập người dân tăng lên kéo theo nhu cầu về tài chính, giáo dục, y tế, nhà ở, công nghệ và các dịch vụ chất lượng cao ngày càng lớn, góp phần giảm dần sự phụ thuộc của nền kinh tế vào mô hình tăng trưởng dựa trên lao động giá rẻ và gia công.
Chìa khóa cho mục tiêu thu nhập cao
Trước mục tiêu trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, TS Lê Duy Bình cho rằng, bài học quan trọng nhất là Việt Nam không được ngủ quên hay tự mãn trên những kết quả đã đạt được.
Theo ông, phía trước vẫn là thách thức lớn, đặc biệt là nguy cơ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” - vấn đề nhiều nền kinh tế từng gặp phải sau khi bước vào nhóm thu nhập trung bình cao.
Vì vậy, Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh những cải cách đã được khởi xướng trong thời gian qua, đồng thời chuyển đổi mô hình tăng trưởng để phù hợp với giai đoạn phát triển mới. Mô hình tăng trưởng trước đây đã giúp Việt Nam chuyển từ một quốc gia kém phát triển trở thành nước đang phát triển và vươn lên nhóm thu nhập trung bình thấp, nhưng sẽ khó tạo ra bứt phá trong giai đoạn tiếp theo.
“Việt Nam cần không ngừng đổi mới, sáng tạo, tiếp tục cải cách môi trường đầu tư, môi trường kinh doanh và thể chế, đồng thời xây dựng một mô hình tăng trưởng mới phù hợp hơn để hướng tới mục tiêu trở thành nền kinh tế phát triển có thu nhập cao”, ông nói.
Theo ông, trong giai đoạn mới, Việt Nam không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào các yếu tố đầu vào như lao động giá rẻ hay tài nguyên thiên nhiên như trước đây.
“Chúng ta phải luôn đổi mới, luôn làm mới mình và không ngừng tìm kiếm các động lực tăng trưởng mới. Chính những động lực tăng trưởng mới, dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng suất các nhân tố tổng hợp, sẽ là chìa khóa giúp Việt Nam tiến tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao”, TS Lê Duy Bình nhấn mạnh.
Trong khi đó, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân cho rằng, trước hết cần tiếp tục đột phá về thể chế, tạo môi trường kinh doanh minh bạch, cạnh tranh bình đẳng, bảo vệ quyền tài sản và giải phóng hiệu quả các nguồn lực xã hội. Nhà nước cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển, lấy doanh nghiệp và người dân làm trung tâm.
Cùng với đó, Việt Nam phải nâng cao năng suất lao động và chất lượng nguồn nhân lực, tập trung đào tạo đội ngũ lao động có kỹ năng cao trong các lĩnh vực như công nghệ, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, bán dẫn, logistics, năng lượng xanh và quản trị quốc tế. Giáo dục đại học, đào tạo nghề, nghiên cứu ứng dụng và liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp cần được ưu tiên hơn.
Vị chuyên gia cũng nhấn mạnh vai trò của khu vực kinh tế tư nhân. Theo ông, một nền kinh tế thu nhập cao cần có các doanh nghiệp nội địa đủ năng lực về công nghệ, quản trị và tài chính để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Vì vậy, cần tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn dài hạn, đất đai, công nghệ, dữ liệu và thị trường quốc tế.
Bên cạnh đó, Việt Nam cần phát triển mạnh thị trường vốn, trái phiếu, các quỹ đầu tư, bảo hiểm, tài chính xanh và tài chính số nhằm huy động nguồn vốn dài hạn cho phát triển hạ tầng, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh.
Theo ông, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo phải trở thành động lực tăng trưởng chủ đạo, thông qua việc thúc đẩy nghiên cứu và phát triển, sandbox công nghệ, trí tuệ nhân tạo, fintech, bán dẫn, kinh tế số, tài sản số có kiểm soát.
Cuối cùng, tăng trưởng cần gắn với chuyển đổi xanh và phát triển bền vững. Trong bối cảnh các thị trường lớn ngày càng siết chặt các tiêu chuẩn về phát thải carbon, ESG và truy xuất nguồn gốc, chuyển đổi xanh không chỉ là yêu cầu về môi trường mà còn là điều kiện để hàng hóa và doanh nghiệp Việt Nam tiếp tục nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.





